Điều kiện tiếp cận thị trường dịch vụ bưu chính, viễn thông

Dịch vụ bưu chính, viễn thông là ngành nghề điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Cùng VN Law Firm tìm hiểu quy định chi tiết!


1. Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài là gì?

Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài là điều kiện nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng để đầu tư trong ngành, nghề thuộc Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Đầu tư 2025.

Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:

– Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế;

– Hình thức đầu tư;

– Phạm vi hoạt động đầu tư;

– Năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư;

– Điều kiện khác theo quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều kiện tiếp cận thị trường dịch vụ bưu chính, viễn thông
Hình minh họa. Điều kiện tiếp cận thị trường dịch vụ bưu chính, viễn thông

2. Điều kiện tiếp cận thị trường bảo hiểm; ngân hàng; kinh doanh chứng khoán và các dịch vụ khác liên quan

NGÀNH, PHÂN NGÀNH ĐIỀU KIỆN HẠN CHẾ TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CĂN CỨ PHÁP LÝ
Dịch vụ bưu chính, viễn thông
Các dịch vụ bưu chính (CPC 7511)

Các dịch vụ chuyển phát (CPC 7512)

1. WTO, AFAS, VJEPA, VKFTA, CPTPP:

Việt Nam chỉ có quy định đối với dịch vụ chuyển phát (CPC 7512**):không hạn chế.

* Dịch vụ chuyển phát nhanh[1], tức là dịch vụ gồm thu gom chia chọn, vận chuyển và phát trong nước hoặc quốc tế:

(a) Thông tin dưới dạng văn bản[2], thể hiện trên bất kỳ hình thức vật lý nào, bao gồm cả:

– Dịch vụ có lai ghép (hybrid mail service);

– Thông tin quảng cáo trực tiếp (direct mail).

Trừ việc xử lý các vật gửi là thông tin dưới dạng văn bản có giá cước dịch vụ thấp hơn 10 lần giá cước của một bức thư tiêu chuẩn gửi trong nước ở nấc khối lượng đầu tiên 9 Đôla Mỹ quốc tế; với điều kiện tổng khối lượng của các vật phẩm này không quá 2000 gam.

(b) Kiện[3]và các hàng hóa khác.

* Xử lý các vật phẩm không ghi địa chỉ người nhận (non-addressed items).

Dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của các Thành viên sẽ được dành cho sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho Bưu chính Việt Nam hoặc các công ty con của Bưu chính Việt Nam đối với các hoạt động cạnh tranh.

2. EVFTA:

Phụ lục 8-B: Dịch vụ bưu chính (CPC7511** và 7512**) (Ngoại trừ các dịch vụ công cộng và dịch vụ dành riêng) là không hạn chế.

Dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của các Thành viên sẽ được dành cho sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho Bưu chính Việt Nam hoặc các công ty con của Bưu chính Việt Nam đối với các hoạt động cạnh tranh.

– WTO, AFAS, VJEPA, VKFTA, EVFTA, CPTPP

– Luật Bưu chính năm 2010.

– Nghị định 47/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật bưu chính

Dịch vụ viễn thông, bao gồm:

1. Dịch vụ viễn thông cơ bản

(a)Các dịch vụ thoại (CPC 7521)

(b)Dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói (CPC 7523**)

(c)Dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh (CPC 7523**)

(d)Dịch vụ Telex (CPC 7523**)

(e)Dịch vụ Telegraph (CPC 7523**)

(f)Dịch vụ Facsimile (CPC 7521** + 7529**)

(g)Dịch vụ thuê kênh riêng (CPC 7522** + 7523**)

(o*)Các dịch vụ khác:

-Dịch vụ hội nghị truyền hình (CPC 75292):

-Dịch vụ truyền dẫn tín hiệu video trừ truyền quảng bá[4]

-Các dịch vụ thông tin vô tuyến, bao gồm: Dịch vụ thoại di động (gồm di động mặt đất và vệ tinh); Dịch vụ số liệu di động (gồm di động mặt đất và vệ tinh); Dịch vụ nhắn tin; Dịch vụ PCS; Dịch vụ trung kế vô tuyến.

– Dịch vụ kết nối Internet (IXP)[5]

– Dịch vụ mạng riêng ảo (VPN).[6]

2.Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng

(h) Thư điện tử (CPC 7523 **)

(i) Thư thoại (CPC 7523 **)

(j) Thông tin trực tuyến và truy cập lấy thông tin từ cơ sở dữ liệu (CPC 7523**)

(k) Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) (CPC 7523**)

(l) Các dịch vụ facsimile gia tăng giá trị, bao gồm lưu trữ và chuyển, lưu trữ và khôi phục (CPC 7523**)

(m) Chuyển đổi mã và giao thức

(n) Thông tin trực tuyến và xử lý dữ liệu (bao gồm xử lý giao dịch) (CPC 843**)

(o)Dịch vụ truy cậpInternet (IAS)[7].

1. WTO,AFAS,VJEPA, VKFTA, EVFTAquy định:

Các cam kết dưới đây phù hợp với “Thông báo về việc đưa ra các cam kết về dịch vụ viễn thông cơ bản” (S/GBT/W/2/REV.1) và “Thông báo về Hạn chế tiếp cận thị trường liên quan đến độ khả dụng của phổ tần” (S/GBT/W/3)”. Để phục vụ các cam kết này, một “nhà cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng” có nghĩa là nhà cung cấp không sở hữu dung lượng truyền dẫn nhưng hợp đồng thuê dung lượng từ nhà khai thác, sở hữu dung lượng đó, bao gồm cả dung lượng cáp quang biển, kể cả trên cơ sở dài hạn. Một nhà cung cấp không có hạ tầng mạng được phép sở hữu các trang thiết bị viễn thông trong phạm vi trụ sở hoạt động của mình và tại các điểm cung cấp dịch vụ công cộng được cho phép (POP).

1.1. WTO, VKFTA, VJEPA:

Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản:Không hạn chế, ngoại trừ

–Các dịch vụ không có hạ tầng mạng:Cho phép liên doanh và tự do chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh.

–Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

Đối với dịch vụ mạng riêng ảo (VPN):Không hạn chế, ngoại trừ:

–Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh và tự do chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 70% vốn pháp định của liên doanh.

–Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

Đối với dịch vụ giá trị gia tăng:Không hạn chế, ngoại trừ:

–Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh.

–Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

1.2. AFAS

Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản: Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng:Cho phép liên doanh và tự do chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 70% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn góp được nâng lên 75%.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng:Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

Đối với dịch vụ mạng riêng ảo (VPN): Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng:Cho phép liên doanh và tự do lựa chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 70% vốn pháp định của liên doanh.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng:Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

Đối với dịch vụ giá trị gia tăng: Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng:Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 70% vốn pháp định của liên doanh.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng:Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

1.3. EVFTA:

Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản: Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh và tự do chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn góp được nâng lên 75%.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

Đối với dịch vụ mạng riêng ảo (VPN): Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng:Cho phép liên doanh và tự do chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 70% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn góp được nâng lên 75%.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng:Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

Đối với dịch vụ giá trị gia tăng: Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn góp được nâng lên 100%.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn góp được nâng lên 65%.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

2. CPTPP:

a)Phụ lục NCM I-VN-7 Dịch vụ viễn thông: Dịch vụ cơ bản, Dịch vụ giá trị gia tăng

Dịch vụ xuyên biên giới

–Dịch vụ viễn thông vệ tinh: Các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài không được phép cung cấp dịch vụ viễn thông vệ tinh trừ khi dịch vụ được cung cấp thông qua thỏa thuận thương mại với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông vệ tinh quốc tế Việt Nam được cấp phép, ngoại trừ dịch vụ viễn thông vệ tinh cung cấp cho các khách hàng kinh doanh ngoài biển, các cơ quan chính phủ, các nhà cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng, các đài phát thanh và truyền hình, các văn phòng đại diện chính thức của các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự, các khu phát triển phần mềm và khu công nghệ cao và các công ty đa quốc gia[8]đã được cấp phép sử dụng trạm vệ tinh mặt đất.

Đầu tư:

–Các dịch vụ không có hạ tầng mạng[9]:

+Dịch vụ cơ bản và giá trị gia tăng: không được đầu tư nước ngoài để cung cấp các dịch vụ không có hạ tầng mạng trừ khi thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 65%, hoặc 70% trong trường hợp mạng ảo riêng. Sau không quá 5 năm kể từ khi Hiệp định TPP có hiệu lực, Việt Nam sẽ xóa bỏ các hạn chế về tỷ lệ góp vốn của nước ngoài và yêu cầu liên doanh.

–Các dịch vụ có hạ tầng mạng:

+Dịch vụ cơ bản: không được đầu tư nước ngoài để cung cấp các dịch vụ có hạ tầng mạng ngoại trừ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam đã được cấp phép, với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 49%.

+ Dịch vụ giá trị gia tăng: không được đầu tư nước ngoài để cung cấp các dịch vụ có hạ tầng mạng ngoại trừ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam đã được cấp phép, với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 51%. Sau không quá 5 năm kể từ khi Hiệp định TPP có hiệu lực, Việt Nam sẽ nâng hạn chế vốn góp của nước ngoài lên 65%.

Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép sở hữu đến 100% dung lượng truyền phát cáp quang biển cập bờ tại trạm cáp quang biển được cấp ở Việt Nam, và có thể bán dung lượng đó cho bất kỳ nhà mạng viễn thông được cấp phép nào ở Việt Nam, bao gồm cả các nhà cung cấp dịch vụ internet, ở Việt Nam.

b)Phụ lụcNCMII-VN-13: Dịch vụ viễn thông

Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng và duy trì bất kỳ biện pháp nào liên quan đến đầu tư, xây dựng, vận hành và khai thác các mạng và dịch vụ viễn thông phục vụ các tộc người thiểu số ở vùng nông thôn và hẻo lánh ở Việt Nam.

3. Pháp luật Việt Nam

a) Nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư theo hình thứcliên doanh,hợp đồng hợp tác kinh doanhđể cung cấp dịch viễn thông cơ bản. Riêng đối vớicấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, đối tác Việt Nam phải làdoanh nghiệp viễn thông đã được cấp giấy phép thiết lập mạng viễn thông tại Việt Nam.

b) Một tổ chức, cá nhân đã sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần trong một doanh nghiệp viễn thông thì không được sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần của doanh nghiệp viễn thông khác cùng kinh doanh trong một thị trường dịch vụ viễn thông thuộc Danh mục dịch vụ viễn thông do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định.

c) Điều kiện về vốn pháp định và mức cam kết đầu tư quy định tại các Điều 19, 20, 21 Nghị định số25/2011/NĐ-CP.

– WTO, AFAS, VJEPA, VKFTA, EVFTA, CPTPP

– Luật An toàn thông tin mạng năm 2015

– Luật viễn thông 2023

– Nghị định 163/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Viễn thông


[1]Các dịch vụ chuyển phát nhanh có thể bao gồm, ngoài yếu tố tốc độ xử lý nhanh hơn và độ tin cậy cao hơn, các yếu tố gia tăng giá trị nhưthu gom tận tay người gửi, phát tận tay người nhận, truy tìm và định vị, khả năng thay đổi nơi nhận và địa chỉ nhận trong khiđang vận chuyển, báo phát.

[2]Thông tin dưới dạng văn bản bao gồm: thư tín, bưu thiếp, văn bản viết tay, hoặc ấn phẩm như sách, báo, ấn phẩm định kỳ, tạp chí, hoặc các chứng từ thương mại như hóa đơn, quảng cáo/báo giá, v.v…

[3]Phần này bao gồm cả sách và catalô (catalogues).

[4]Truyền quảng bá là một chuỗi truyền dẫn liên tục cần thiết cho việc quảng bá các tín hiệu chương trình phát thanh và truyền hình tới công chúng, nhưng không bao gồm các tuyến truyền dẫn giữa các nhà khai thác.

[5]Các dịch vụ cung cấp đường kết nối giữa các nhà cung cấp dịch vụ truy nhập Internet (IAS) này và với mạng trục Internet quốc tế.

[6]Các dịch vụ, được cung cấp trên cơ sở thương mại, gồm thiết lập và quản lý một mạng dùng riêng trên mạng công cộng (mạng dùng chung) để thiết lập liên lạc thoại và số liệu trên cơ sở phi lợi nhuận giữa các thành viên của một nhóm sử dụng khép kín được xác định từ trước khi thiết lập VPN. Nhóm sử dụng khép kín đó có thể là các đơn vị trong một tập đoàn hoặc một tổ chức, hoặc một nhóm các pháp nhân có quan hệ liên kết với nhau để cùng thực hiện lợi ích/mục tiêu chung. Các thành viên ban đầu của nhóm sử dụng khép kín dùng dịch vụ VPN đó phải được liệt kê trong một kế hoạch quay số hoặc định tuyến do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và chịu sự giám sát. Các nhà cung cấp dịch vụ VPN phải thông báo cho Cơ quan có thẩm quyền những thay đổi về thành viên ít nhất trước 2 tuần làm việc trước khi thực sự bắt đầu cung cấp dịch vụ thương mại và chỉ có thể bắt đầu cung cấp dịch vụ nếu trong hai (2) tuần đó không có sự phản đối của Cơ quan có thẩm quyền. Các thành viên không được phép bán lại các dịch vụ VPN cho một bên thứ 3 không liên quan. Các mạng VPN không được phép truyền/chuyển tiếp lưu lượng của/giữa các bên thứ ba không liên kết. Các dịch vụ VPN có thể được các nhà khai thác dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài cung cấp trong một gói cùng với dịch vụ truy nhập Internet và các dịch vụ giá trị gia tăng từ (h) đến (n).

[7]Các dịch vụ cung cấp truy nhập Internet cho các khách hàng đầu cuối.

[8]Theo mục tiêu của biện pháp không tương thích này, một công ty đa quốc gia là công ty a) có hiện diện thương mại ởViệt Nam; b) đang hoạt động ở ít nhất 1 nước TPP khác; c) đã đi vào hoạt động ít nhất 5 năm; d) được cấp phép sử dụngtrạm vệ tinh mặt đất ở ít nhất 1 nước TPP

[9]Trong bảo lưu này, một“nhà cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng” là nhà cung cấp dịch vụ không sở hữu hạ tầngtruyền dẫn nhưng hợp đồng thuê hạ tầng truyền dẫn đó, bao gồm cả việc thuê dài hạn, với nhà cung cấp dịch vụ có hạtầng mạng. Nhà cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng, tuy vậy, không bị ngăn cấm sở hữu thiết bị viễn thông trongcơ sở của mình cũng như các điểm cung cấp dịch vụ công được cho phép của mình (POP)

Xem thêm: Ngành nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài

4.8/5 - (951 bình chọn)
Thêm VnLawFirm trên Google
Chọn VnLawFirm làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.

* Khuyến cáo pháp lý: Các quy định pháp luật được tham chiếu trong bài viết có thể đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế. Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo. Để nhận được tư vấn chính xác và phương án tối ưu nhất cho hồ sơ của bạn, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi.


VN LAW FIRM – Tư vấn Pháp lý ⚠️ Đây là số điện thoại tư vấn của VN LAW FIRM (tổ chức tư nhân), KHÔNG PHẢI là số điện thoại của cơ quan Nhà nước hay cơ quan Thuế, KHÔNG hỗ trợ tra cứu giá đất. 🌐 Website: VNLawFirm.vn ✉️ Email: 📞 Phone/Zalo (VN Law Firm): 0782244468 / 0966902248

Đăng ký tư vấn miễn phí

Để lại thông tin, VN Law Firm sẽ liên hệ trong 24h.

✅ Đã gửi thành công! Chúng tôi sẽ liên hệ sớm.
⚠️ Có lỗi xảy ra, vui lòng thử lại.
Xin lưu ý, số điện thoại này: KHÔNG PHẢI của cơ quan nhà nước, cơ quan thuế...
KHÔNG hỗ trợ tra cứu giá đất.
* Xem SỐ ĐIỆN THOẠI BÀN để liên hệ cơ quan thuế/cơ quan nhà nước tại MỤC 1 NỘI DUNG BÀI VIẾT (nếu có). Bạn vẫn muốn tiếp tục gọi?